04-11-2026 - Lượt xem: 79

Bệnh không lây nhiễm đang chiếm phần lớn gánh nặng tử vong, trong khi nhiều người mắc tăng huyết áp, đái tháo đường chưa được phát hiện và điều trị hiệu quả. Nghị quyết 72-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, quản lý sức khỏe ngay tại cộng đồng.
(Ảnh minh họa do AI thiết kế)
Cùng với quá trình già hóa dân số, đô thị hóa và thay đổi lối sống, số người mắc bệnh không lây nhiễm ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu phải tổ chức lại hoạt động chăm sóc sức khỏe theo hướng chủ động hơn.
Từ thực tiễn này, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kính và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Hướng Dương đã đưa ra những phân tích đáng chú ý về các thách thức của ngành y tế, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Già hóa dân số và gánh nặng bệnh tật kép
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kính, Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, ngành y tế Việt Nam đang phải đối mặt với 3 thách thức lớn, trong đó trước hết là quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng.
Ông dẫn số liệu cho thấy, người từ 60 tuổi trở lên hiện chiếm khoảng 11% dân số và dự báo đến năm 2035 có thể chiếm khoảng 22% – 25%. Đây là những con số được chuyên gia đề cập trong bài phát biểu, cần đối chiếu lại với nguồn thống kê chính thức.
Điều đáng quan tâm không chỉ là số người cao tuổi gia tăng, mà còn là tình trạng một người đồng thời mắc nhiều bệnh lý. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kính, Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, ngành y tế Việt Nam đang phải đối mặt với 3 thách thức lớn, trong đó trước hết là quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng.
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Kính, người hơn 60 tuổi thường có ít nhất 2-3 vấn đề sức khỏe, phổ biến là các bệnh liên quan đến tim mạch, nội tiết và chuyển hóa.
Khi những bệnh lý này cùng tồn tại, việc chẩn đoán và điều trị trở nên phức tạp. Đặc biệt, nếu người bệnh mắc thêm các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, virus hoặc nấm, nguy cơ diễn biến nặng có thể tăng lên đáng kể.
Ở góc độ dịch tễ học, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Hướng Dương, Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương cũng nhấn mạnh tốc độ già hóa dân số của Việt Nam thuộc nhóm nhanh trên thế giới.
Theo chuyên gia, Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số diễn ra nhanh, trong khi điều kiện kinh tế và khả năng bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi vẫn còn nhiều thách thức.
Ông lưu ý một thực tế đáng quan tâm: Gần 2/3 người cao tuổi tại Việt Nam có ít nhất một bệnh nền và hơn một nửa trong nhóm có bệnh nền mắc đồng thời nhiều bệnh.
Điều này không chỉ tạo áp lực đối với hệ thống y tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, khả năng lao động, sinh hoạt và gánh nặng kinh tế của mỗi gia đình.
Cùng với già hóa dân số, mô hình bệnh tật tại Việt Nam cũng đã thay đổi rõ rệt.
Theo Phó Giáo sư Phan Hướng Dương, trong những thập niên gần đây, gánh nặng bệnh tật đã chuyển dịch từ các bệnh truyền nhiễm sang bệnh không lây nhiễm.
Số liệu năm 2023 được chuyên gia dẫn tại hội nghị cho thấy, các bệnh không lây nhiễm chiếm khoảng 79% tổng số ca tử vong tại Việt Nam. Những nhóm bệnh chủ yếu gồm tim mạch, ung thư, bệnh hô hấp mạn tính và đái tháo đường.
Đáng chú ý, dù bệnh không lây nhiễm ngày càng chiếm ưu thế, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nguy cơ xuất hiện những dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái nổi.
Giáo sư Nguyễn Văn Kính cho rằng, biến đổi khí hậu là thách thức thứ hai tác động mạnh đến sức khỏe con người.
Những thay đổi của môi trường sống có thể làm biến đổi điều kiện phát triển, lây truyền của các tác nhân gây bệnh. Các bệnh truyền từ động vật sang người, những bệnh truyền nhiễm mới nổi hoặc từng được kiểm soát nhưng xuất hiện trở lại đều đặt ra yêu cầu phải tăng cường năng lực giám sát, dự phòng và ứng phó.
Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí, nguồn nước, chất thải và những yếu tố độc hại trong môi trường cũng ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe cộng đồng.
Thách thức thứ ba được Giáo sư Nguyễn Văn Kính đề cập là toàn cầu hóa. Trong bối cảnh giao lưu, đi lại và trao đổi giữa các quốc gia ngày càng lớn, những nguy cơ đối với sức khỏe không còn giới hạn trong phạm vi một địa phương hay một quốc gia.
Theo ông, những thách thức này đòi hỏi ngành y tế phải tăng cường hợp tác, cập nhật kiến thức và phối hợp chuyên môn, đồng thời phát triển năng lực ứng phó với cả bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm.
Những con số cảnh báo từ tăng huyết áp, đái tháo đường
Đi sâu vào thực trạng bệnh không lây nhiễm, Phó Giáo sư Phan Hướng Dương dành nhiều thời gian phân tích tình hình mắc bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp và những yếu tố nguy cơ đang gia tăng trong cộng đồng.
Theo số liệu điều tra được chuyên gia dẫn, tỷ lệ mắc đái tháo đường tại Việt Nam vào khoảng 7,8%; riêng tại Hà Nội là khoảng 8,3%. “Hiện nay, chúng tôi đang tiếp tục triển khai điều tra trong năm 2026, sau khoảng năm năm, để đánh giá sự thay đổi của tình hình mắc bệnh. Điều đáng quan tâm là tỷ lệ người mắc đái tháo đường nhưng chưa được phát hiện vẫn còn rất cao”, Phó Giáo sư Phan Hướng Dương cho biết.
Việt Nam làm chủ nhiều kỹ thuật y khoa.
Với tăng huyết áp, tình hình cũng đặt ra nhiều thách thức. Theo Phó Giáo sư Phan Hướng Dương, tỷ lệ người mắc tăng huyết áp được chẩn đoán, điều trị và kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu còn hạn chế.
Từ thực trạng này, Phó Giáo sư Phan Hướng Dương đặt vấn đề phải tăng cường phát hiện sớm bệnh ngay tại cộng đồng.
Nếu người mắc tăng huyết áp không được đo huyết áp thường xuyên, không biết mình mắc bệnh hoặc không được điều trị liên tục, nguy cơ xuất hiện biến chứng tim mạch, đột quỵ sẽ gia tăng. Tương tự, người mắc đái tháo đường nếu không được kiểm soát tốt có thể phải đối mặt với các biến chứng ở thận, mắt, tim mạch và hệ thần kinh.
Một nội dung khác được chuyên gia nhấn mạnh là sự gia tăng các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống. Quá trình đô thị hóa, thay đổi thói quen ăn uống, tiêu thụ nhiều thực phẩm giàu năng lượng, ít vận động thể lực, sử dụng thuốc lá và rượu bia đang góp phần làm gia tăng tình trạng thừa cân, béo phì và các bệnh chuyển hóa.
Phó Giáo sư Phan Hướng Dương cho hay, có khoảng 22% dân số chưa đáp ứng yêu cầu về hoạt động thể lực. Tỷ lệ tăng huyết áp khoảng 26,2% và tỷ lệ sử dụng thuốc lá khoảng 20,8%. Những thay đổi về lối sống đang khiến một số bệnh lý trước đây thường gặp ở người trưởng thành xuất hiện ở nhóm tuổi trẻ hơn.
Trong thực tế điều trị, ông cho biết các bác sĩ đã gặp những trường hợp trẻ em khoảng 10-11 tuổi mắc đái tháo đường. Đây là cảnh báo đáng chú ý về tác động của tình trạng thừa cân, béo phì, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và ít vận động đối với sức khỏe trẻ em.
Chuyển từ chữa bệnh sang chủ động chăm sóc sức khỏe
Từ những số liệu và thực trạng nêu trên, Phó Giáo sư Phan Hướng Dương đánh giá cao định hướng của Nghị quyết 72 trong việc chuyển trọng tâm từ khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Theo chuyên gia, đây là sự thay đổi cần thiết khi Việt Nam đang phải đối mặt đồng thời với già hóa dân số, sự gia tăng bệnh không lây nhiễm và những nguy cơ sức khỏe mới.
Ông cho rằng, phòng bệnh không thể chỉ được hiểu là tuyên truyền người dân ăn uống hợp lý, tập thể dục hoặc hạn chế các yếu tố nguy cơ.
Phòng bệnh còn phải bao gồm phát hiện sớm, can thiệp và điều trị những tình trạng có nguy cơ tiến triển thành bệnh hoặc gây ra biến chứng.
Chẳng hạn, đối với người có tiền đái tháo đường, việc theo dõi và can thiệp sớm có thể góp phần hạn chế nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường.
Với người thừa cân, béo phì, kiểm soát cân nặng không đơn thuần là cải thiện hình thể mà còn có ý nghĩa dự phòng nhiều bệnh lý liên quan đến chuyển hóa, tim mạch và các cơ quan khác.
Theo Phó Giáo sư Phan Hướng Dương, béo phì có liên quan đến rất nhiều vấn đề sức khỏe. Vì vậy, các biện pháp điều chỉnh dinh dưỡng, tăng cường vận động, quản lý cân nặng và điều trị khi có chỉ định cần được xem là một phần của chiến lược dự phòng bệnh không lây nhiễm.
Theo chuyên gia này, chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 – 2035 đặt ra một trong những mục tiêu quan trọng là nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở, tiến tới bảo đảm các trạm y tế xã, phường có khả năng thực hiện hoạt động dự phòng, quản lý và điều trị bệnh không lây nhiễm theo hướng dẫn chuyên môn.
“Đây là mục tiêu có ý nghĩa lớn, nhưng cũng đặt ra áp lực không nhỏ về nhân lực, trang thiết bị, thuốc và khả năng tổ chức thực hiện”, Phó Giáo sư Hướng Dương chia sẻ. Bởi trên thực tế, để một trạm y tế có thể quản lý thường xuyên người mắc tăng huyết áp hoặc đái tháo đường, không chỉ cần có cán bộ y tế mà còn phải có đủ năng lực đánh giá, theo dõi, kê đơn và xử trí những tình huống phù hợp với phạm vi chuyên môn.
Một vấn đề quan trọng khác là bảo đảm người bệnh được tiếp cận thuốc điều trị ngay tại tuyến cơ sở.
Theo Phó Giáo sư Phan Hướng Dương, việc điều trị đái tháo đường tại cơ sở không nên chỉ dừng lại ở những phương pháp đơn giản, mà cần từng bước mở rộng khả năng tiếp cận các thuốc và kỹ thuật phù hợp, trên cơ sở hướng dẫn chuyên môn và điều kiện an toàn.
Ông đề cập việc xây dựng, cập nhật các hướng dẫn điều trị và danh mục thuốc, trong đó có những phương pháp điều trị như insulin đối với trường hợp có chỉ định.
Điều này có ý nghĩa thiết thực đối với người bệnh mạn tính, bởi nếu phải thường xuyên di chuyển lên tuyến trên chỉ để theo dõi hoặc tiếp tục điều trị, chi phí và thời gian đi lại có thể trở thành gánh nặng kéo dài.
Đưa bác sĩ, kỹ thuật và thuốc điều trị về gần người dân
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu, Phó Giáo sư Phan Hướng Dương nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở.
Trong đó, đào tạo bác sĩ chuyên khoa y học gia đình được xác định là một trong những hướng ưu tiên. Chương trình đào tạo dự kiến hỗ trợ hơn 500 bác sĩ, trong đó khoảng 400 bác sĩ được đào tạo chuyên khoa và ít nhất 100 bác sĩ được đào tạo ở trình độ cao hơn.
Theo ông, bác sĩ y học gia đình có vai trò quan trọng trong quản lý sức khỏe liên tục, nhất là đối với người cao tuổi và người mắc nhiều bệnh mạn tính. Khác với việc chỉ điều trị từng đợt bệnh riêng lẻ, mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu đòi hỏi nhân viên y tế phải nắm được tình trạng sức khỏe tổng thể, các yếu tố nguy cơ và quá trình điều trị của người dân.
Bên cạnh đào tạo nhân lực, chuyên gia đề xuất đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật và kiến thức chuyên môn từ các bệnh viện tuyến trên cho các cơ sở y tế tuyến dưới.
Các hoạt động chỉ đạo tuyến, đào tạo thực hành và hỗ trợ trực tiếp cần được tổ chức thường xuyên, giúp cán bộ y tế cơ sở từng bước nâng cao năng lực quản lý và điều trị bệnh.
Phó Giáo sư Phan Hướng Dương cũng đề cập việc các chuyên gia, bác sĩ từ những bệnh viện tuyến trên đến hỗ trợ các cơ sở y tế ở vùng sâu, vùng xa, đồng thời tổ chức đào tạo và chuyển giao kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế.
Theo ông, việc chuyển giao chuyên môn không chỉ giúp nâng cao năng lực của tuyến dưới mà còn tạo điều kiện để người dân được tiếp cận các tiến bộ y học mà không phải di chuyển quá xa.
Tiêm vaccine phòng bệnh cúm chuyên biệt cho người cao tuổi.
Một trong những vấn đề được chuyên gia lưu ý là sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất giữa các cơ sở y tế. Có những kỹ thuật chuyên môn đã được phát triển nhưng việc triển khai gặp khó khăn do hạn chế về hạ tầng, trang thiết bị hoặc điều kiện tổ chức.
Vì vậy, cùng với đào tạo nhân lực và chuyển giao kỹ thuật, việc đầu tư cơ sở vật chất cần được thực hiện đồng bộ, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tuyến.
Ở góc độ phát triển y học hiện đại, Giáo sư Nguyễn Văn Kính cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị. Theo ông, những tiến bộ trong sinh học phân tử, chẩn đoán hình ảnh, trí tuệ nhân tạo và số hóa đang tạo ra những phương thức mới để phát hiện bệnh sớm và nâng cao hiệu quả điều trị.
Đặc biệt, khi một người bệnh đồng thời mắc nhiều bệnh lý, việc kết hợp thông tin từ các chuyên khoa có ý nghĩa rất quan trọng.
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Kính, ứng dụng sinh học phân tử giúp nhận diện tác nhân gây bệnh, trong khi các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ bác sĩ phát hiện sớm những bất thường. Những tiến bộ trong xét nghiệm, chẩn đoán ung thư và các công nghệ y học mới cũng mở ra khả năng phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm hơn.
Ông cho rằng, ngành Y tế cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời tăng cường phối hợp chuyên môn để đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng phức tạp.
Từ góc nhìn đó, Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có mối liên hệ chặt chẽ với Nghị quyết 72 về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Khoa học, công nghệ tạo ra những công cụ mới để chẩn đoán, điều trị; trong khi đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe giúp các tiến bộ đó được ứng dụng rộng rãi, phục vụ người dân hiệu quả hơn.
Theo nhandan.vn
https://nhandan.vn/tu-nghi-quyet-72-nqtw-den-thay-doi-cach-cham-soc-suc-khoe-post999501.html